Showing posts with label Bút ký người Việt hải ngoại. Show all posts
Showing posts with label Bút ký người Việt hải ngoại. Show all posts

12.7.11

Bút ký người Việt hải ngoại 3

Dạo này có 1 số công việc bận nên đành gác bút, hôm nay quay về với 1 đoạn ngắn nữa.

Trái chanh có phải là "lemon"?

Hồi xưa đi học tiếng Anh thì thầy cô nào cũng dạy trái chanh là "lemon". Vậy sao tôi lại đặt ra câu hỏi ấy nữa? Phải chăng trái chanh không phải là "lemon"? Đáp án là vừa đúng vừa không. Vì "lemon" đúng là trái chanh rồi nhưng nó là trái chanh vàng chứ không phải chanh xanh như của Việt Nam ta. Trong tiếng Anh, chanh xanh thì gọi là "lime". 

Trái chanh trời tây là chanh vàng, trái to và nặng hơn nhiều trái chanh xanh của ta. Tuy vậy, vị chanh có phần hơi ngọt, chua dịu chứ không "chua lè" như chanh xanh. Và cũng bởi vì là trái cây bản địa quanh năm nên giá cả loại chanh này tương đối rẻ hơn loại chanh xanh. Tuy nhiên, nếu so ra với tiền Việt thì 1 trái chanh Tây mua được gần chục trái chanh ở ta chứ chả chơi. 

Trái chanh xanh Việt Nam giá $1/trái (21,500 VND/trái)

Hôm tôi đi chợ, giá chanh xanh là $1/ trái, to hơn trái banh bóng bàn 1 chút, còn trái chanh vàng to gấp rưỡi, có khi gấp đôi thì giá là $2/ 3 trái. Mùa đông mà, cái gì cũng lên giá cả. Bởi sự chênh lệch giá cả đó mà nếu bạn đi ăn phở, ăn bún bò, sẽ hiếm khi (mà có lẽ là không bao giờ) thấy trên đĩa rau những lát chanh xanh mát mắt như ở Việt Nam, sẽ chỉ là những lát chanh vàng mà thôi. Nhưng có lẽ đã là 1 thói quen suốt nhiều chục năm, nên đã không còn ai phàn nàn gì về việc này (chanh gì chả là chanh), dẫu có biết rằng, cái vị chua nồng nàn kia mới lột tả hết cái hương vị của tô phở, của món gỏi gà, của chén tương đen đỏ, của đĩa muối tiêu chanh,...
Là 1 người đứng bếp Tây, với tôi, việc sử dụng trái chanh vàng nay đã thành thói quen. Làm salad thì dùng "lemon dressing" (là hỗn hợp dầu và nước cốt chanh), nướng gà thì cho thêm vào chút vỏ chanh cho dậy mùi, làm bánh, nấu súp thì nạo vỏ chanh nhuyễn rắc lên cho thêm thơm, và còn nhiều nhiều nữa những công dụng của trái chanh vàng đã quen thuộc. Nhưng cứ mỗi khi bước vào quán phở, tôi lại muốn có lát chanh xanh (có lẽ lần sau đi ăn sẽ mang theo 1 trái) để cái hương vị nguyên bản sẽ được phần nào tái hiện trên đất khách xa xôi, một cái hương vị "chua lè" quen thuộc.

"Ở Việt Nam ăn chuối cho đã đi con, chuối ở Úc $1/ trái"

Chị Chi cùng nhà có lần kể với tôi rằng khi cậu của chị lần đầu sang Úc chơi khi về đã nói rằng: "Ở Việt Nam ăn chuối cho đã đi con, chuối ở Úc $1/ trái". Có lẽ không sai. Như tôi đã nói, giá trái cây xứ Úc này đắt kinh khủng. Tuy rằng lục địa Úc trải dài từ vùng nhiệt đới sang ôn đới, có Tasmania lạnh lẽo quanh năm và cũng có Darwin bốn mùa nắng nóng nên hầu hết có thể trồng được cả cây trái nhiệt đới lẫn ôn đới. Tuy nhiên diện tích canh tác và nhà ở của Úc lại chỉ ở cùng ven lục địa, nơi có những dòng sông và biển cả, vì ở trung tâm đất liền là sa mạc hoang vu chỉ có cát đỏ và hòn Uluru to lớn - nơi cất giữ những lịch sử ngàn năm của người Aboriginal. Và như thế, có những loại cây trái không dễ trồng, mà khi trồng rồi, giá vốn lại cao nên giá thành cũng phải đành đội lên chóng mặt. Chuối là 1 mặt hàng như thế.

Lúc tôi vừa sang đây, giá chuối đâu chừng $4-$5/ nải độ 8-9 trái. Nhưng rồi vừa qua, tiểu bang Queensland bị 1 trận lụt lớn dữ dội đã tàn phá nhiều thành phố, nhà cửa và cả đất đai canh tác, mà khổ thay, chuối được trồng chủ yếu ở Queensland. Kết quả là giá thành của chuối đã nhanh chóng leo thang đên chóng mặt. Ngày tôi đi chợ là đã hơn 4 tháng kể từ khi thảm họa lũ lụt xảy ra, và giá chuối vẫn tăng cao ở mức$11.99/kg. Và mới đây giá chuối ở siêu thị đã là $13.99/kg.
Giá chuối $12/kg (258,000 VND)

Chuối ở Úc không đa dạng như chuối Việt Nam, chỉ có phổ biến 1 loại chuối to "tổ nái" gấp đôi trái chuối của ta, ngoài ra cũng có những loại chuối khác, chuối nhỏ cũng có nhưng giá thành cũng tương tự không hơn kém bao nhiêu xen (cent). Và bạn thử nghĩ nhé, 1 trái chuối to thế đã chừng 3-600 gr/trái, vậy thì chẳng khác nào nói 1 trái chuối (chưa lột vỏ) giá $4-$6 (tương đương  86,000 VND - 129,000 VND).

Tuy rằng giá cả trên trời thế nhưng nếu cần, người ta vẫn cứ mua. Cô Thảo - 1 người Việt đã ở Úc này 20 năm nói với tôi: "Cô cứ nói với mấy đứa con cô là: 'Tụi bây thèm ăn cái khác đi cho mẹ nhờ, thèm ăn chuối hoài hà.' 1 kí giá 12 đồng, mà 2-3 trái là hết 1 kí rồi, mỗi ngày hết 12 đồng mua chuối cho tụi nó không đó con.". Tôi không nhớ lắm giá chuối ở VN nhưng chắc đâu chừng 15-20,000/ nải thì phải (tôi không rành lắm). Hồi nhỏ tôi giống ngoại tôi, thích ăn cơm với chuối, bữa nào cũng là 1 tô cơm thịt, rau và 1-2 trái chuối cắt lát, ăn như vậy tôi mới thấy ngon miệng, mà nghĩ lại thì không những ngon miệng mà còn tốt cho sức khỏe nữa. Chính phủ Úc cũng khuyến khích dân ăn chuối nhiều, vì thực đơn bữa ăn hàng ngày truyền thống của dân Tây thì chỉ có thịt là thịt, nhưng với giá chuối cao như vầy thì chắc có lẽ cũng đành bó tay.

1.7.11

Bút ký người Việt hải ngoại 2

Chợ Bilo ngày đầu đông

Hôm tôi đến chợ Bilo là một chiều lạnh sương mù đầu đông năm 2011. Trong cái giá lạnh đầu đông, người ta quấn kín người trong những chiếc áo bông dày cộm, những chiếc khăn choàng cổ, những chiếc găng tay nhưng không khí chợ Bilo vẫn đông đúc tấp nập.

Như tôi đã nói, ở Melbourne có 3 khu vực Việt Nam lớn và cũng là 3 khu chợ lớn của người Việt, cũng như khu Phước Lộc Thọ ở Cali - thủ đô tị nạn. Chỉ có điều 3 khu vực này tản ra ở phía đông, tây, và nam Melbourne. Khu Springvale ở phía Nam có chợ Springvale, khu North Richmon phía đông có chợ Bến Thành, khu Footscray phía tây có chợ Bilo, hay còn gọi là Little Saigon mà người ta vẫn thường chỉ gọi là chợ Footscray.

Chợ Bilo không to nhưng lúc nào cũng ồn ào nhộn nhịp, kể cả khi nắng lên lẫn chiều tà. Nếu buổi sáng các bà các cô Việt Nam ra mua rau mua cá về nấu bữa chiều cho gia đình thì buổi chiều, người Việt ta lại mò ra chợ khi rau thịt giảm giá cuối ngày. Mọi thứ đều tấp nập đông đúc người là người với những tiếng rao hàng không khác gì những khu chợ ở Việt Nam. 

Khách đông đúc, cô bán hàng vừa cười vừa rao mãng cầu gai

Chợ Bilo có 4 gian hàng trái cây, rau quả lớn bán kèm với những đồ khô như mì, nước tương, gia vị, v.v., 1 gian hàng thịt, 2 gian hàng đồ biển, 1 tiệm hoa be bé, vài ba quán ăn nhỏ có bán "take away" mà Mỹ gọi là "food to go" và Việt Nam thì đơn giản là "bỏ bọc đem dzìa". Mỗi món có thể từ $3 đến $9-$10 gồm các món Việt Nam đặc trưng. Nào là thịt kho hột vịt, nào gà xào xả ớt, rồi lại có những món như bì, mắm, cải chua, và sau cả là những món quà vặt như chè ba màu, chè trôi nước, chè đậu xanh, sương sa hột lựu, bánh bao, bánh cam, xôi mặn,... đủ cả. Chỉ cần nhìn như thế là thấy cả 1 trời Việt Nam.

 Những món ăn và quà vặt giản dị có thể tìm thấy trên mọi nẻo đường ở Việt Nam thì trên đất khách, đây là những món ngon mà nhiều người rất nhớ, rất thèm

Bó rau trời Tây

Melbourne cũng như những xứ lạnh khác, có 4 mùa 1 năm nên rau cải trái cây cũng theo mùa. Chính phủ Úc chủ trương "hoàn bảo" (sustainable) trong thực phẩm nghĩa là thực phẩm chủ yếu được gieo, trồng, nuôi, đánh bắt tại Úc, hạn chế nhập từ những nước khác, vì sẽ giảm tải nhiên liệu khi vận chuyển, hạn chế khí CO2 và CFC gây hiệu ứng nhà kính. Bởi thế nên vào mùa thu đông, trái cây rau quả đắt đỏ đến đau cả túi. Hơn nữa rau cải cũng không nhiều như Việt Nam.

Rau cải xứ Úc này nhìn thì to hơn rau cải Việt Nam rất nhiều, cọng ngò, cọng hành lá nhìn to gấp đôi Việt Nam nhưng về mùi vị thì phải vài 3 cọng hành lá bên đây mới thơm bằng 1 cọng hành lá Việt Nam trong khi giá thành thì đắt gấp mười lần. Giá một bó hành (chừng 8-9 cây) trong siêu thị là $1.98, đổi thành tiền Việt chừng  42,000 đồng. Một bó ngò cũng đắt không kém.

Nếu hỏi người Việt Nam ra hải ngoại trong bữa ăn nhớ gì nhất, chắc có lẽ là nhớ rau. Tôi nhớ ông cậu mợ tôi sống ngót 30 năm ở Canada lạnh giá, trong lần đầu về thăm Việt Nam đã nói với tôi rằng: "Hiếm lắm con ơi, không có đủ, mà đến mùa tuyết thì ôi thôi, không tìm đâu ra được. Cả con cá cũng đông lạnh chứ đừng nói đến cọng rau." Sau đó bằng cách nào đó mà ông đã đem lọt 1 nhúm rau càng cua sang Canada và cả vườn nhà đã lên đầy càng cua, một món rau mà phải nói khó kiếm vô cùng ở hải ngoại trong khi vườn nhà Việt Nam đầy rẫy.

Bạn nhớ đĩa rau ăn bánh xèo hay ăn phở không? Một đĩa to với cả đụn rau cải xanh xanh nhìn mát cả mắt. Riêng đĩa rau bánh xèo đến cả chục loại rau khác nhau mà ở hải ngoại thì không thể nào tìm ra được. Hơn nữa, giá rau trời Tây đắt đỏ hơn thịt. Giá rau nhiều khi còn đắt hơn cả thịt bò Úc, nổi tiếng ngon và đắt. Bởi chúng tôi ở đây thường nói đùa rằng: "Ở Việt Nam nghèo thì ăn rau chứ bên đây thằng giàu mới dám ăn rau kiểu Việt Nam.".

Nếu hỏi cá nhân tôi nhớ rau gì khi sang đây thì tôi sẽ trả lời là rau muống. Ở Sài Gòn rau muống rẻ lắm. Và cũng như mọi người dân miền Tây, rau muống đã là một trong những món ăn thường ngày của tôi từ khi còn nhỏ. Bó rau muống to lặt lấy lá, đem xào tỏi chấm chao vừa mặn vừa cay, ăn với cơm trắng, giản dị như thế mà ngon một cách lạ lùng. Mà bạn biết rau muống đấy, một bó to bằng bó củi sau khi lặt lá, lại đem xào thì nó teo lại thành 1 đĩa con con gắp mấy đũa là hết sạch. Và cái món rau ấy ở đây mắc đến chóng mặt, nhất là vào mùa đông thì càng mắc hơn nữa. Nên phải vài tháng tôi mới dám ăn rau muống một lần, mà đến đông thì cạch.

Rau muống đầu đông: $13/kg và cải bó xôi $3/bó


Cải rổ $7.99/kg, còn cải thượng hải (cải thìa) có quanh năm nên rẻ hơn rất nhiều: $2/3 bó


29.6.11

Bút ký người Việt hải ngoại 1

Tôi là người Sài Gòn.

Tấm hình tôi chụp 4 năm về trước về một vài góc nhỏ nhiều kỉ niệm ở Sài Gòn

Tôi là người Sài Gòn. Tôi tự hào khi nói điều đó. Tôi đã sinh ra và sống trên mảnh đất đó suốt hơn 20 năm cuộc đời của mình. Tôi biết thành phố đó như tôi biết mình là người Việt Nam. Sài Gòn bây giờ đã đổi khác quá...

Tôi có lẽ là một trong những thế hệ cuối cùng được nhìn thấy hình ảnh Sài Gòn tươi đẹp và thanh bình trước khi nó biến thành 1 đô thị quá hiện đại đến nỗi khói bụi công nghiệp đã che lấp những đóa hoa, và tiếng xe máy, tiếng kèn inh ỏi đã át đi tiếng rao đặc trưng của Sài Gòn. Những mở cửa đất nước từ đầu những năm 90 đã giúp cho Sài Gòn tiến nhanh vượt bật nhưng cùng với việc đô thị và công nghiệp hóa chính là sự tàn phá khủng khiếp vẻ đẹp thanh lịch và kiêu kỳ của Hòn Ngọc Viên Đông, của Paris Phương Đông. Tất cả đã qua rồi thời xa xưa thanh bình đó.

Những ký ức đầu tiên của tôi về Sài Gòn là chợ hoa ngày Tết. Và rồi sau nữa là những đèn lồng giấy đỏ lung linh mùa Trung Thu. Nhưng có lẽ những gì tôi nhớ nhất là tiếng rao đêm. Căn nhà nơi tôi sinh ra trong 1 con chợ nhỏ của khu lao động nhập cư có tiếng "giang hồ". Mỗi đêm khi ngủ, tôi đều nghe những tiếng rao đêm. Với tôi, đó có lẽ là những lời ru cho những cảm xúc đầu đời của tôi. Đã nhiều năm qua đi từ cái thời tôi chỉ là 1 đứa nhóc, tôi đã không còn (hay là rất ít khi) nghe lại những tiếng rao đêm đó. 

Có khi nào bạn tự hỏi tại sao người ta lại cứ gọi là Sài Gòn mà không gọi là Tp HCM khi mà danh xưng Sài Gòn đã bị khai tử khỏi bản đồ thế giới từ hơn 30 năm qua? Tôi đã tự hỏi mình như thế. Tại sao những người Việt ở trên đất Việt Nam lẫn hải ngoại đều gọi thành phố ấy là Sài Gòn? Tại sao văn thơ ca nhạc đều dùng mỹ từ Sài Gòn? Vì thói quen chăng? Hay cũng có lẽ vì 2 tiếng Sài Gòn đã khắc sâu vào tâm khảm của người Việt Nam chúng ta, mà dù đã trải qua mấy mươi năm, và bao thế hệ con cháu chắt ra đời, Sài Gòn vẫn cứ mãi là Sài Gòn. Và bạn hãy làm theo lời tôi, hãy lên bất kỳ trang mạng nào của các hãng hàng không trên thế giới, ngay cả của Vietnamairline, hãy tìm mã chữ của sân bay Tân Sơn Nhất - Tp. HCM, bạn sẽ nhận được 3 mẫu tự in hoa: SGN - viết tắt cả Sài Gòn. Và như thế, cái tên Sài Gòn, cứ bay mãi từ thành phố hơn 300 năm tuổi ra khắp nơi trên thế giới. 

Và cũng bởi vì thế, tôi cũng sẽ gọi mình ngoài từ Vietnamese trong tiếng Anh bằng từ Saigonese - người Sài Gòn.

....

Bánh mì Việt trên đất Úc

Nếu người Hoa tự hào họ có món mì và người Việt ta tự hào có phở thì bánh mì sẽ là 1 điểm cộng cho sự đa dạng văn hóa ẩm thực của người Việt ta. 

Từ thế kỷ trước, người Pháp mang bánh mỳ đến Việt Nam, và đến bây giờ, bánh mì đã trở thành một trong những thứ không thể thiếu trong ẩm thực Việt. Bạn thử nghĩ sẽ thế nào nếu món trứng ốp la không có ổ bánh mì nóng giòn? Sẽ thế nào nếu món cà ri hay bò kho thiếu đi những khoanh bánh mì? Có 1 lần, tôi nói chuyện với thầy tôi, một người Do Thái già thông thái, ông đã nói rằng: "Việt Nam hơn những đất nước châu Á khác vì họ có bánh mì. Người Việt ra hải ngoại giàu là nhờ những tiệm bánh mì. Khi họ đến xứ Úc, họ không có gì, và họ muốn có tiền nhanh chóng để tạo dựng cuộc sống mới trên đất khách, thế là họ đã làm bánh mì."

Tôi nhớ lắm những xe bánh mì đẩy ở Việt Nam, chiếc xe chỉ vỏn vẹn dài độ 1 thước, ngang tầm nửa thước hay cỡ đó với mặt kiếng, với những ổ bánh mì, với cái thớt gỗ tròn nhỏ, với những miếng thịt đỏ au, những cọng ngò xanh xanh, những viên thịt heo, những hộp cá mòi "Ba Cô Gái". Lúc tôi 7 tuổi, ổ bánh mì nhỏ chỉ có 700 đồng, ổ lớn 1000 đồng, và bây giờ giá cả đã gấp đôi gấp ba.

Nhưng nếu đã nói đến bánh mì Sài Gòn, chắc có lẽ không ai không biết bánh mì Như Lan trên đường Hàm Nghi. Bánh mì Như Lan đã có tiếng ở đất Sài Gòn bấy nhiên năm thì trên xứ sở chuột túi này, bánh mì Như Lan cũng có chỗ đứng đặc biệt trong lòng người Việt xa xứ.

Nếu đã là người Việt ở Melbourne chắc không ai không biết đến bánh mì Như Lan. Ổ bánh mì Như Lan giòn rụm, kẹp thịt, kẹp chả, thêm chút rau chút ngò, cuối cùng đã đi vào lòng người Việt xa xứ, từ cái tên đến cái vị, như một nỗi nhớ niềm thương gửi về Sài Gòn năm nao.


Một trong hệ thống tiệm bánh mì Như Lan ở Footscray - Melbourne

Footscray - chợ Việt Nam

Ở Melbourne có 3 chợ Việt lớn và cũng là 3 khu người Việt có tiếng là Springvale, Footscray và North Richmon. Trong cả 3 thì Footscray là chỗ tôi hay lui tới nhất.

Đến Footscray, điều đầu tiên bạn nhận ra là tiếng Việt. Tất nhiên là không chỉ có mỗi tiếng Việt, mà còn có tiếng Anh (dĩ nhiên), tiếng Quảng, tiếng Tiều, tiếng Phổ Thông. Bản thân tôi tuy sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn nhưng quê tôi là khu vực người Tiều, nên cả từ ngữ âm thanh cũng lẫn những tiếng của người Tiều như "chế", như "xẩm", như "hia". Bởi đôi khi nghe những tiếng đó lại cảm thấy vui vui như nhớ về 1 phần quá khứ dĩ vãng.

Những bảng hiệu ở đây cũng được viết bằng tiếng Việt, kế bên có tiếng Anh và còn có tiếng Hoa nữa.

Những dãy tiệm của người Việt với bảng tiếng hiệu tiếng Việt - Anh - Hoa
 
Cả từ ngữ họ dùng cũng là từ ngữ của người Việt khi xưa mà có lẽ giới trẻ bây giờ không mấy ai biết, thậm chí nhiều người cảm thấy "quê mùa" nhưng với người Việt thương nhớ quá khứ như tôi hay với những người Việt xa xứ, những câu chữ giản dị lại có sức hút mãnh liệt. Đôi khi chỉ là những từ bình thường nhưng đã thay đổi và khác biệt giữa người Việt trong nước và hải ngoại như "di trú", "di dân" giờ gọi là "di cư"; hay như những địa danh tên nước ngoài, họ cũng biết tên tiếng Anh là "Philippines" nhưng người ta vẫn gọi là "Phi Luật Tân". Nhưng dù là tiếng gì, ở đâu đi nữa, vẫn là tiếng Việt Nam, vẫn là tiếng dân tộc, là nét đẹp của người Việt Nam. Nên đôi khi nhớ tiếng Việt, tôi lại mò về những khu chợ Việt Nam, không phải để mua đồ, không phải để ăn uống, mà chỉ là để nghe lại tiếng Việt qua những lời nói, tiếng rao giữa phố chợ đông người.

"Muốn qua Úc du học rồi được ở lại luôn?"

.